Kiến Thức Phổ Thông

Tìm hiểu về Mặt trăng Oberon của sao Thiên Vương

Giới thiệu

Oberon còn gọi là Uranus IV, là mặt trăng lớn và nằm phía ngoài cùng trong nhóm mặt trăng chính của Sao Thiên Vương. Đây là mặt trăng lớn và nặng thứ hai của Sao Thiên Vương, là mặt trăng nặng thứ 9 và là vật thể nặng thứ 21 trong Hệ Mặt Trời. mặt trăng này do William Herschel phát hiện năm 1787, Oberon được đặt tên theo một nhân vật trong tác phẩm của Shakespeare Giấc mộng đêm hè. Một phần quỹ đạo của nó nằm phía ngoài từ quyển của Sao Thiên Vương.

Sơ yếu lý lịch của mặt trăng Oberon

  • Đường kính: 1,098.48 km
  • Khối lượng: 3,013 × 10^21kg
  • Quay quanh: Sao Thiên Vương
  • Bán trục lớn: 583 520 km
  • Chu kỳ: 13,463 234 ngày
  • Nhiệt độ bề mặt: 2,12 – 2,42 °C
  • Ngày tìm ra: 11/1/1787
  • Tìm ra bởi: William Herschel

Thông tin thú vị về về mặt trăng Oberon

  • Oberon được cấu tạo từ băng và đá với lượng xấp xỉ bằng nhau, và có khả năng có sự phân dị giữa lõi đá và lớp phủ băng. Một tầng nước lỏng có thể tồn tại ở ranh giới giữa lõi và lớp phủ. Bề mặt của Oberon, có màu đen và đỏ nhạt, có lẽ ban đầu đã được định hình chủ yếu do va chạm với các tiểu hành tinh và sao chổi.
  • Oberon đã được William Herschel phát hiện vào ngày 11 tháng 1 năm 1787; trong cùng ngày ông cũng đã phát hiện ra mặt trăng lớn nhất của Sao Thiên Vương, Titania. Sau đó ông còn thông báo về việc phát hiện ra thêm bốn mặt trăng khác, mặc dù sau đó chúng được xác nhận là giả.
  • Quỹ đạo Oberon cách Sao Thiên Vương khoảng 583.500 km, xa nhất trong số năm mặt trăng lớn. Quỹ đạo Oberon có độ nghiêng và độ lệch tâm nhỏ (tương đối so với xích đạo Sao Thiên Vương). Chu kỳ quỹ đạo của nó khoảng 13,5 ngày, trùng với chu kỳ tự quay.
  • Oberon là mặt trăng lớn và nặng nhất của Sao Thiên Vương sau Titania, và là mặt trăng nặng thứ 9 trong Hệ Mặt Trời. Khối lượng riêng của Oberon là 1,63 g/cm3, cao hơn khối lượng riêng điển hình của các mặt trăng của Sao Thổ, chỉ ra rằng có sự cân bằng giữa tỉ lệ băng và một thành phần đậm đặc không phải băng. Thành phần thứ hai có thể được cấu tạo từ đá và vật chất giàu carbon bao gồm hợp chất hữu cơ nặng.
  • Oberon được cho rằng đã hình thành từ một đĩa bồi tụ hay phụ tinh vân; một đĩa khí và bụi tồn tại quanh Sao Thiên Vương một thời gian sau khi nó được hình thành hoặc được tạo ra từ một va chạm khủng khiếp mà rất có thể đã khiến trục Sao Thiên Vương nghiêng mạnh. Thành phần chính xác của phụ tinh vân vẫn chưa rõ; tuy nhiên, khối lượng riêng tương đối cao của Oberon và các mặt trăng khác của Sao Thiên Vương so với mặt trăng của Sao Thổ chỉ ra rằng chúng có lượng nước tương đối ít.
  • Oberon đã được William Herschel phát hiện vào ngày 11 tháng 1 năm 1787; trong cùng ngày ông cũng đã phát hiện ra mặt trăng lớn nhất của Sao Thiên Vương, Titania. Sau đó ông còn thông báo về việc phát hiện ra thêm bốn mặt trăng khác, mặc dù sau đó chúng được xác nhận là giả.
  • Quỹ đạo Oberon cách Sao Thiên Vương khoảng 583.500 km, xa nhất trong số năm mặt trăng lớn. Quỹ đạo Oberon có độ nghiêng và độ lệch tâm nhỏ (tương đối so với xích đạo Sao Thiên Vương). Chu kỳ quỹ đạo của nó khoảng 13,5 ngày, trùng với chu kỳ tự quay.
  • Oberon là mặt trăng lớn và nặng nhất của Sao Thiên Vương sau Titania, và là mặt trăng nặng thứ 9 trong Hệ Mặt Trời. Khối lượng riêng của Oberon là 1,63 g/cm3, cao hơn khối lượng riêng điển hình của các mặt trăng của Sao Thổ, chỉ ra rằng có sự cân bằng giữa tỉ lệ băng và một thành phần đậm đặc không phải băng. Thành phần thứ hai có thể được cấu tạo từ đá và vật chất giàu carbon bao gồm hợp chất hữu cơ nặng.
  • Oberon được cho rằng đã hình thành từ một đĩa bồi tụ hay phụ tinh vân; một đĩa khí và bụi tồn tại quanh Sao Thiên Vương một thời gian sau khi nó được hình thành hoặc được tạo ra từ một va chạm khủng khiếp mà rất có thể đã khiến trục Sao Thiên Vương nghiêng mạnh. Thành phần chính xác của phụ tinh vân vẫn chưa rõ; tuy nhiên, khối lượng riêng tương đối cao của Oberon và các mặt trăng khác của Sao Thiên Vương so với mặt trăng của Sao Thổ chỉ ra rằng chúng có lượng nước tương đối ít.
Tags
Back to top button